Change background image
Lục quân 2

You are not connected. Please login or register

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down  Thông điệp [Trang 1 trong tổng số 1 trang]

Old Developer

Cấp bậc: Developer

Giới tính: Nam

Bài viết: 573

Danh vọng: 920

Uy tín: 16


Lựu đạn hoạt động như thế nào?



Có một loại vũ khí rất quen thuộc nhưng vô cùng hữu dụng trên chiến trường, đó chính là Lựu đạn (Grenade), tức loại vũ khí “quăng cho nổ, (lỡ) đạp phát chết luôn!”.

Trong bài viết này, ngoài tìm hiểu về lựu đạn sát thương, mình sẽ nói thêm về những loại lựu đạn khác đang được sử dụng hiện nay như lựu đạn khói, lựu đạn cháy, hơi cay...

Mục lục

  1. Tại sao gọi là “Lựu đạn”?
  2. Cấu tạo của Lựu đạn
  3. Lựu đạn hẹn giờ (Time-delay grenade)
  4. Lựu đạn va đập (Impact grenade)
  5. Một số loại lựu đạn khác

1. Tại sao gọi là "Lựu đạn"?

Lựu đạn là một hình thức của thuốc nổ được người Trung Quốc phát minh vào khoảng năm 1.000 sau Công Nguyên. Đến thế kỷ thứ 15, 16 thì người châu Âu cũng phát triển được các phiên bản tương tự như "lựu đạn" của người Trung Quốc.

Những loại lựu đạn này có chung một thiết kế đó là vỏ bằng kim loại, phần ruột rỗng và bên trong chứa thuốc súng. Để kích nổ nó, người ta chỉ cần châm ngòi sau đó ném lựu đạn đi, dây ngòi sau khi cháy hết, ngọn lửa sẽ bén vào trong thuốc súng và làm cho nó phát nổ. Do đó mà ngày xưa, người ta phải ném nó thật nhanh trước khi nó phát nổ, nếu không thì chính họ sẽ phải nổ tung cùng với thứ vũ khí chết người này. Vì vậy mà sang thế kỷ thứ 18, người ta không còn chuộng loại vũ khí này nữa do nó quá nguy hiểm. Tuy nhiên, từ đó về sau con người đã thực hiện rất nhiều cuộc "tiểu phẫu" khác nhau nhằm cải tiến lựu đạn cho nó an toàn hơn, thông minh hơn và cũng hoạt động hiệu quả hơn.

Từ "Lựu đạn" xuất phát từ từ “Pomegranate” trong tiếng Pháp, nghĩa là trái lựu. Hồi thế kỷ thứ 16, lính Pháp và một số lính châu Âu khác sử dụng những trái bom nhỏ, tròn tròn như quả lựu, bên trong nhét đầy thuốc súng giống như các hạt lựu trong quả lựu nên người ta mới gọi nó là “Lựu đạn”.


Một quả lựu đạn cầm tay

2. Cấu tạo của Lựu đạn

Lựu đạn gồm có hai phần chính: vật liệu dễ cháy (thuốc súng, chất nổ)hệ thống đánh lửa (kíp nổ). Vật liệu dễ cháy có chức năng tạo ra vụ nổ còn hệ thống đánh lửa có chức năng kích cho vật liệu đó nổ. Ngoài thuốc súng ra, người ta có thể thay vào đó những loại vật liệu khác ví dụ như vật liệu tạo lửa (lựu đạn
cháy, gây hiệu ứng cháy lan), tạo khói (lựu đạn khói, hơi cay) hoặc lựu đạn gây lóa mắt (Flashbang), khí độc...

Tương tự như vậy, kíp nổ cũng rất đa dạng, nhưng tựu chung lại thì ta có thể gom thành 2 loại chính đó là kíp nổ hẹn giờ và kíp nổ va đập/tiếp xúc. Cả hai đều có chung một mục đích là kích nổ lựu đạn nhưng cách hoạt động thì khác nhau.

Kíp nổ hẹn giờ, y như tên gọi của nó, là loại kíp nổ sau một khoảng thời gian nhất định, ví dụ như 4 giây, 7 giây... nó sẽ đánh lửa làm cho lựu đạn phát nổ. Còn loại kíp nổ va đập thì khi có va đập (rơi xuống đất) hay có người đạp lên nó thì lập tức lựu đạn sẽ phát nổ ngay, đúng kiểu "đạp phát chết luôn". Loại lựu đạn này có thể không sử dụng thuốc súng mà dùng vật liệu dạng lỏng, ví dụ như chất NitroGlycerine hay một số chất khác có khả năng đốt cháy khi chịu sự va đập hoặc cọ xát. Do đó bản thân chất lỏng này cũng là một kíp nổ.

Một ví dụ rất dễ hiểu dành cho loại lựu đạn va đập này đó là loại "lựu đạn chai" (Molotov cocktail) mà ta thường thấy trên phim hay TV. Lựu đạn Molotov thường dùng một cái lọ hoặc chai nước rỗng, bên trong chứa xăng hoặc chất lỏng dễ cháy, miệng chai được bịt kín bằng một miếng vải và cho một phần miếng vải này lòi ra ngoài miệng chai. Khi ta đốt miếng vải lòi ra ngoài và quăng nó đi, lựu đạn rơi xuống đất làm cho chai bị vỡ, chất lỏng rơi ra, chạm vào ngọn lửa ở miệng chai và bốc cháy.

Tuy nhiên, cả hai loại lựu đạn này đều không an toàn, chúng rất dễ nổ trước khi ta kịp "cao chạy xa bay" nên chúng không còn thông dụng, đặc biệt là khi dùng trong quân sự.


"Lựu đạn" Molotov

3. Lựu đạn hẹn giờ (Time-delay grenade)

Loại lựu đạn thông dụng nhất trên chiến trường hiện nay có cái tên khá dài, tạm dịch là "Lựu đạn cầm tay hẹn giờ phá mảnh gây sát thương" (time-delay fragmentation anti-personnel hand grenade), có chức năng tiêu diệt hoặc gây sát thương cho quân thù. Loại lựu đạn này rất phổ biến trong thế chiến thứ nhất và thứ hai. Nó bền, dễ sử dụng và dễ sản xuất, được thiết kế để khi nổ sẽ phóng ra hàng loạt các mảnh kim loại theo tứ phía, gây sát thương cho những ai đứng gần. Đó là lý do tại sao lớp vỏ của lựu đạn thường có nhiều rãnh để dễ phá mảnh khi nổ.

Thông thường, loại LĐ này sử dụng cơ chế hẹn giờ hóa học (chemical delay mechanism). Bạn có thể xem hình minh họa cơ chế làm việc của nó ngay dưới đây.



Vỏ lựu đạn làm bằng hợp kim gang, bên trong có hệ thống đánh lửa và kíp nổ hẹn giờ để gây nổ lựu đạn. Nó hoạt động như sau:

Bình thường chốt an toàn có nhiệm vụ giữ mỏ vịt, không cho mỏ vịt bật lên, đầu mỏ vịt luôn giữ đuôi kim hỏa, kim hỏa ép lò xo lại. Khi rút chốt an toàn ra, mỏ vịt không bị giữ nữa nên nó sẽ rời ra, đầu mỏ vịt rời khỏi đuôi kim hỏa, lò xo bung ra, đẩy kim hỏa đập vào mũ đánh lửa, lửa đốt cháy dây dẫn hóa học, khi cháy hết nó sẽ phụt lửa vào kíp nổ, gây nổ LĐ.

Mặc dù loại lựu đạn này khá hữu dụng nhưng nó cũng có một số nhược điểm nhất định. Trong đó nhược điểm thường thấy nhất đó chính là tính khó lường trước của nó. Tùy vào loại hóa chất dùng làm dây dẫn cháy chậm mà thời gian phát nổ có thể dao động từ 2-6 giây và điều này tạo cho kẻ địch có cơ hội phản công. Nếu người ném lựu đạn không tính toán đúng thời gian ném và phát nổ, kẻ địch có thể nhặt lựu đạn trước khi nó nổ và ném ngược lại, gây nguy hiểm cho bên mình. Do đó, người ta mới phát minh ra một loại lựu đạn khác là lựu đạn va đập, tức nó sẽ phát nổ ngay khi rơi xuống đất hay chạm mạnh vào một vật gì đó.

4. Lựu đạn va đập (Impact grenade)

Lựu đạn va đập hoạt động giống như những quả bom ném xuống từ máy bay, khi chạm đất thì chúng sẽ phát nổ ngay lập tức. Thông thường người ta không dùng tay để ném chúng mà dùng một loại vũ khí gọi là súng phóng lựu (Granade launcher) để phóng quả lựu đạn đi ở tốc độ cao.

Súng phóng lựu có hình ống, thường được gắn kèm bên dưới các khẩu súng trường như bạn thấy ở hình dưới đây. Chúng sẽ phóng lựu đạn đi bằng khí gas nén khi người cầm súng bóp cò, một số loại súng phóng lựu thậm chí còn có cả kíp nổ riêng và hệ thống phóng tích hợp sẵn bên trong. Một loại súng phóng lựu khác "bình dân" hơn mà ta hay thấy đó là súng phóng lựu xách vai (RPG, Rocket-Propelled Granade Launcher). Loại này ta thường thấy nhất trên chiến trường Afghanistan và chúng cũng có hệ thống phóng tích hợp riêng bên trong.

Vì loại lựu đạn này dễ phát nổ khi va đập nên bình thường người ta phải khóa nó lại, nếu không thì sẽ rất nguy hiểm, nó sẽ được mở khóa khi bắn ra khỏi nòng súng. Cơ chế mở khóa của nó là tự động, nghĩa là ta không có cái công tắc nào để mở khóa chúng cả mà nó sẽ tự mở như sau: Khóa sẽ tự động được mở khi bị một lực đẩy đẩy ra khỏi nòng súng, hay nhờ vào vận tốc bay, sự xoay vòng của lựu đạn khi bay ra khỏi nòng súng cũng có thể mở khóa được chúng trước khi va chạm vào mục tiêu và phát nổ.

Lựu đạn va đập có hình dáng thiết kế theo kiểu khí động học, nhìn hình miêu tả bạn sẽ thấy nó có 3 phần: phần đầu (kíp nổ va đập), phần thân và hai cái vây (cánh). Cấu tạo bên trong của nó có nhiều điểm giống với loại lựu đạn hẹn giờ, nhưng do cách hoạt động khác nhau nên cơ chế kích nổ của nó cũng có phần khác nhau.



Cách hoạt động của nó như sau:

Bình thường khi còn nằm trong họng súng, lựu đạn sẽ ở trạng thái khóa. Kíp nổ của nó nằm ở phần đuôi (màu đỏ, xem hình minh họa), bên dưới kíp nổ là một lò xo nhưng lúc này đang bị nén lại và giữ chặt bời hai cái ghim trọng lực. Hai cái ghim này giữ không cho lò xo đẩy kíp nổ lên phía trước, mục đích là để cho búa gõ không gõ tới được.

Khi ta khai hỏa, lựu đạn bay ra khỏi nòng, vừa bay và vừa xoay vòng. Chính hình dáng và vị trí của hai cái vây hai bên và những cái rãnh bên trong họng súng giúp cho lựu đạn có thể xoay vòng trong không trung. Mục đích của việc xoay vòng này là nó sẽ tạo ra một lực ly tâm, để khi bay ra đủ xa, lực ly tâm sẽ làm cho hai cái ghim trọng lực bị bật ra. Lúc này lò xo bên dưới kíp nổ không còn bị giữ chặt nữa nên nó sẽ bung lên và đẩy kíp nổ về phía trước, hướng về phía búa gõ. Chính lúc này đây, lựu đạn đã chuyển sang trạng thái mở và sẽ phát nổ khi búa gõ đập vào kíp nổ.
Trong khi lựu đạn còn bay trên không, chưa rơi xuống thì búa gõ sẽ chưa thể đập vào kíp nổ được, bởi vì nối giữa phần đầu và phần thân lựu đạn là hai cái lò xo làm cho chúng bị tách nhau ra. Khi lựu đạn rơi xuống đất hoặc chạm mạnh vào một vật thể nào đó làm cho phần đầu bị tác động một lực đủ mạnh, khiến cho nó bị thụt vào, hai cái lò xo bị nén lại và búa gõ sẽ đập vào kíp nổ, kết quả là lựu đạn phát nổ.

[center]
M-203 và đạn của nó


M-203 được gắn kèm bên dưới khẩu súng trường Carbin M4

Súng phóng lựu vác vai RPG-7

[/center]

Trên đây là cách hoạt động cơ bản nhất của 2 loại lựu đạn hẹn giờ và va đập. Hiện nay người ta đã phát triển chúng lên một tầm cao mới. Vẫn sử dụng nguyên tắc hoạt động đó nhưng cơ chế kích nổ sẽ khác đi, thay vì dùng dây dẫn hóa học hẹn giờ hoặc cơ học để kích nổ lựu đạn thì người ta thay thế nó bằng một hệ thống kích nổ điện tử. Ví dụ như trong loại lựu đạn hẹn giờ, họ sẽ gắn vào đó một cái đồng hồ điện tử và búa gõ hoạt động bằng điện. Khi tháo chốt an toàn ra thì đồng hồ sẽ bắt đầu đếm ngược một khoảng thời gian định trước, sau khi đếm xong thì búa gõ sẽ rớt xuống và lựu đạn phát nổ. Bằng cách đó, lựu đạn hẹn giờ có thể "đếm" chính xác thời gian phát nổ hơn là loại sử dụng cơ chế dây dẫn trình
bày ở trên.

Ngoài ra, một số loại súng phóng lựu hiện đại sử dụng hệ thống kích nổ điện tử còn có thể bắn liên thanh chứ không phải bắn phóng từng viên như trước đây. Mỗi quả lựu đạn sẽ được làm nhỏ lại, có kích thước cỡ một viên đạn truyền thống, bên trong có chứa các cảm biến vị trí bằng điện tử. Lúc này người lính có thể bắn liên tục như súng trường và mỗi viên đạn khi chạm vào mục tiêu sẽ phát nổ chứ không chỉ đâm xuyên như các viên đạn thông thường. Tuy nhiên do kích thước của mỗi viên đạn/lựu đạn khá nhỏ, chứa ít chất nổ nên phạm vi phát nổ của nó không lớn bằng các quả lựu đạn cầm tay, nhưng với tốc độ bắn phá liên tục thì đây lại là một thứ vũ khí nguy hiểm có sức công phá rất cao.


Súng máy Mark 19 Mod 3 (MK19) với mỗi viên đạn là một quả lựu đạn nhỏ

Thậm chí vào năm ngoái, quân đội Mỹ còn cho phát triển một loại súng có khả năng điều khiển được thời gian phát nổ của từng viên đạn bắn ra. Loại súng đó có tên là XM25, có khả năng tự động đo khoảng cách từ người lính tới mục tiêu và nhập số liệu đó vào con chip có trong viên đạn. Để khi bắn ra, viên đạn sẽ tự động đo khoảng cách đường bay của nó, khi bay hết quãng đường đã nhập, nó sẽ tự động phát nổ và gây sát thương cho mọi thứ xung quanh. XM25 được xem là thứ vũ khí cực kỳ lợi hại và nguy hiểm dùng để đối phó với những tay súng núp sau những bức tường hay chướng ngại vật mà ta khó bắn trúng được. Giá của mỗi cây XM25 có giá khoảng 25.000$ và mỗi viên đạn có giá 25$.

Một số loại lựu đạn khác

Trên đây là loại lựu đạn sát thương, ngoài chúng ra ta còn có nhiều loại lựu đạn khác với nhiều chức năng khác nhau, ví dụ như lựu đạn cháy, lựu đạn khói, lựu đạn hơi cay hay lựu đạn gây choáng. Quân đội thường sử dụng lựu đạn nổ để gây sát thương, cảnh sát dùng lựu đạn hơi cay để trấn áp đám đông, tội phạm, lựu đạn khói dùng để tung hỏa mù hoặc làm tín hiệu còn lựu đạn cháy thường được dùng để phá hủy nhanh những thứ cần tiêu hủy ví dụ như tài liệu, xe cộ, quân trang...



5. Lựu đạn khói

Lựu đạn khói thường được dùng để làm tín hiệu giữa các nhóm người trên mặt
đất (trong rừng rậm, núi cao...), giữa mặt đất với máy bay (ra tín hiệu hạ cánh, phát tín hiệu cấp cứu...) hoặc cũng có thể dùng để "tung hỏa mù" che mất tầm nhìn của đối phương để quân ta dễ dàng thoát khỏi vòng vây. Chúng có hình dạng ống, thon dài, vỏ bằng kim loại, bên trên và dưới đều có nhiều lỗ để thải khói ra ngoài.

Có hai loại lựu đạn khói: một loại khói màu (để ra tín hiệu) và một loại khói mù (để hạn chế tầm nhìn). Lựu đạn khói màu chứa từ 250-350 gram hợp chất
khói có màu sắc (thường là hợp chất Kali Clorat, đường Lactose và chất nhuộm). Còn khói mù sử dụng hợp chất khói HC (HexaChloroEthane/Kẽm) hoặc TA (Terephthalic Acid). Khói HC rất có hại khi ta hít phải vì nó chứa chất Axít Clohiđric, ngoài ra loại lựu đạn này còn có thể tạo nhiệt nhiều đến nỗi có thể làm bỏng hoặc cháy da.


Lựu đạn khói M18 và cấu tạo bên trong của nó


Lựu đạn khói màu tím khi phát nổ

6. Lựu đạn hơi cay

Dùng để dẹp loạn hay giải tán đám đông. Nó có hình dạng giống như lựu đạn
khói, bên trong chứa từ 80-120 gram khí gas CS (viết tắt của 2-chlorobenzalmalononitrile) và trộn với một hợp chất pháo hoa (Pyrotechnic) để tạo ra một làn khói chứa đầy các khí CS. Nếu hít phải loại khí này sẽ làm cho mắt rất cay và rát.


Lựu đạn cay M7A2 và M7A3 cùng cấu tạo bên trong


Lựu đạn cay thường được sử dụng để giải tán đám đông

7. Lựu đạn cháy

Lựu đạn cháy có chức năng dùng phản ứng hóa học để tạo ra thật nhiều nhiệt
và gây cháy. Mục đích là để tiêu hủy nhanh nhiều thứ vật dụng trong thời gian ngắn ví dụ như tài liệu, hồ sơ mật, quân trang, các loại khí tài... Chúng cũng có hình dạng như lựu đạn khói, bên trong chứ từ 600-800 gram chất Thermate (là loại chất nâng cao của chất nhiệt nhôm - Thermite). Khi phát nổ, một phản ứng nhiệt nhôm sẽ xảy ra, trong đó các hạt nhôm dạng bột và Oxít Sắt sẽ phản ứng với nhau để nung chảy Sắt và Oxít Nhôm. Phản ứng này sẽ tạo ra một lượng nhiệt vô cùng lớn, lên đến 2.200 độ C và đủ sức phá hủy nhiều loại đồ vật khác nhau.

Do phản ứng sinh nhiệt này không cần khí Oxy nên nó có thể "cháy" cả khi ở dưới nước. Đây cũng là loại lựu đạn có thời gian phát nổ khá nhanh, chỉ khoảng 2 giây. Bên cạnh đó người ta còn có thể dùng chất Phốt-pho trắng để thay thế chất Thermite. Loại lựu đạn dùng Phốt-pho trắng có thể tạo ra lượng nhiệt đến 2.800 độ C và rất độc. Chỉ cần 50-100 miligram Phốt-pho trắng là có thể giết chết một người trung bình.


Lựu đạn cháy AN-M14 và cấu tạo của nó


Lựu đạn cháy hay Molotov có thể gây ra các vụ cháy rất dữ dội

8. Lựu đạn gây lóa (Flashbang)

Lựu đạn gây lóa mắt được biết đến dưới nhiều tên gọi khác nhau như Stun grenade, Flash grenade hay Flashbang. Đây là loại lựu đạn không gây nguy hiểm đến tính mạng mà chỉ được dùng để làm tê liệt các giác quan của đối phương trong một khoảng thời gian ngắn. Khi kích nổ Flashbang, những người gần đó sẽ rơi vào tình trạng bị lóa mắt, mọi thứ đều trở nên trắng toát đồng thời họ cũng không thể nghe thấy gì cả.

Nguyên tắc hoạt động của Flashbang đó là khi kích nổ, nó sẽ phát ra những luồng ánh sáng cực mạnh có tác dụng kích thích mọi tế bào nhạy sáng trong mắt con người, làm cho họ tạm thời bị lóa mắt trong khoảng 5 giây, trước khi các tế bào mắt trở về trạng thái bình thường lúc chưa bị kích thích. Ngoài ra, âm thanh phát ra khi Flashbang nổ còn có thể làm xáo trộn chất dịch ngoại bên trong lỗ tai làm cho họ không thể nghe thấy gì.

Bên trong loại lựu đạn này có chứa khoảng 4,5 gram hỗn hợp chất oxy hóa kim loại pháo hoa bao gồm Magie hoặc Nhôm và một chất oxy hóa khác như Amoni Perchlorate hoặc Kali Perchlorate. Chúng không bị phân mảnh khi nổ mà vẫn còn nguyên xi. Trên thân của nó có nhiều lỗ để ánh sáng và âm thanh có thể thoát ra ngoài khi nổ. Tuy nó không phát nổ như loại lựu đạn sát thương nhưng sức nóng tỏa ra của nó có thể làm cháy các vật liệu dễ cháy xung quanh ví dụ như xăng.


Lựu đạn Flashbang M84

Tổng hợp

Bài viết có tham khảo các nguồn:
http://en.wikipedia.org/wiki/Hand_grenade
http://science.howstuffworks.com/grenade1.htm
http://en.wikipedia.org/wiki/Stun_grenade
Một số hình ảnh từ Google
Trích bài viết của TDNC tại tinhte.vn
http://www.cuuhvlq2.tk
      
Sport Tích cực

Cấp bậc: Tích cực

Giới tính: Nam

Bài viết: 492

Danh vọng: 940

Uy tín: 32

Dùng lựu đạn nhiều nhưng thật sự bữa nay nhờ bác Old mình mới biết tệ gọi "lựu đạn" vì giống trái lựu. tuy nhiên còn một loại súng phóng lựu rất phổ biến mà bác Old chưa giới thiệu:

Súng cối cá nhân M79 trong Chiến tranh VN


Trong chiến tranh VN, B40 của quân Giải phóng là hỏa lực chủ yếu của tiểu đội BB làm đối phương khiếp vía. Đây là vũ khí đáng gườm vì tính cơ động, độ chính xác, tầm xa, an toàn cho người sử dụng và có thể bắn vài chục trái đạn khác nhau gây thương tích, uy hiếp phía bên kia. QĐNDVN đã sử dụng M79 thu được, đánh quân Trung Quốc ở biên giới phía Bắc và bọn Pol Pot ở Campuchia, bộ đội ta rất ưa chuộng con này, trước hết vì tính gọn nhẹ, linh hoạt...


M79 with the leaf-type sight unfolded.

Thường được gọi là Thumper/ Blooper. Xuất hiện trong suốt cuộc chiến tại Việt Nam và trông tương tự như nòng lơn, và nòng đơn, và súng cưa nòng của M79 đầu tiên được phục vụ quân đội Mỹ năm 1961.

M79 được thiết kế cho bộ binh, một trong hai vũ khí cá nhân trong bộ binh.Chiến binh được yêu cầu có một vũ khí chuyên dụng và một khẩu súng lục mang theo bên mình. M79 được coi là cầu nối giữa súng phóng lựu tầm xa và súng cối tầm gần (50 đến 300 mét) và do đó trở thành vũ khí không thể thiếu trong một đội binh. Với chiều dài 737 mm (nòng dài 355 mm) cộng với đạn nặng 3kg, M79 là một vũ khí chiến lược đối với địa hình của Việt Nam.

M79 bắn từng phát một, vũ khí nòng rời với cầu lửa đường kính 40 mm được nạp trực tiếp vào khóa nòng. Có một miếng lót cao su để tì súng lên vai và giảm shock. Lựu đạn M406 40 ly HE rời khỏi nòng của M79 đi với vận tốc 75 mét một giây, và chứa lượng chất nổ trong vỏ bọc thép, khi nổ có thể văng ra hơn 300 mãnh vụn với vận tốc 1524 mét một giây, với bán kính sát thương là 5 mét. Đạn đạo bay ổn định vì lựu đạn xoay trong không trung với vận tốc 3700 vòng một phút do vòng xoáy trong nòng tạo ra.

Chiến đấu tầm gần, có 2 loại M79. Loại đầu tiên là đạn hình mũi tên, được giữ 45 viên nhỏ trong hợp plastic, loại này được thực đưa ra trên thực tế thí nghiệm. Sau đó, loại đạn này được thay thế bằng đạn chì của M576 . Loại đạn này bao gồm 27 00 đạn chì nhỏ được đúc và đem theo trong hộp nhựa 40 mm, nó bay chậm hơn trong đạn đạo nhưng dễ tới đích theo mong muốn. M79 cũng là súng bắn lựu đạn khói (loại tiêu chuẩn và loại rơi chậm có dù), bắn khí CS và bắn lửa.

M79 có một lá ở đầu ruồi, cho biết tầm nhìn phía sau xa đến 375 mét trong khoảng cách 25 mét. M79 là vũ khí phóng lựu cầm chính xác trong phạm vi 200 mét. Sau này, M79 được thay thế bằng M203

Xem thêm hình ảnh và bình luận về vũ khí này:




*"Cơ cấu nổ của đạn M79 , thực sự là sản phẩm của 1 nền công nghệ vũ khí rất cao".




* Vài tấm hình nữa









* Và đây là nắp nhựa bảo hiểm đầu đạn




HE(High-Explosive) và HEDP (High-Explosive Dual Purpose) là các loại
lượng nổ cao, dùng phá hủy và sát thương.
HE phá hủy mạnh hơn, HEDP tăng cường tính sát thương.
Practice: dùng lấy cữ - khi bắn sẽ xịt ra thuốc màu cam trên mặt đất. Các loại Star Parachute và Star Cluster (các màu trắng, xanh, đỏ) được dùng như pháo sáng hoặc pháo hiệu. Có lẽ điểm khác nhau là các loại Parachute có dù, nên thời gian sáng lâu hơn.
Loại IR Star Parachute có lẽ là loại cháy ở mức độ yếu, mắt thường không phát huy được nhiều, nhưng các loại kính ngắm hồng ngoại sẽ hiệu quả.
Loại Smoke Ground Marker để đánh dấu mục tiêu phía bên kia bằng khói.
Loại Smoke Canopy có lẽ ngược lại, để che khuất ...chỗ nào cần che.
CS là lựu đạn cay.
M1006, M1029 là các loại bắn đạn cao su với M1029 bắn đạn cao su cứng, cái còn lại là mềm.
----
Không phải mình sợ bán kính sát thuơng của M79, mà sợ nhất khi nào nó đạn nổ ngay cạnh thì mình mới biết.
----

Lịch sử súng phóng lựu M79 40mm (USA)

Cỡ nòng: 40mm (40x46)
Chiều dài: 737 mm
Nặng: 2.72 kg chưa đạn
Tầm hiệu quả: 150 m (bắn mục tiêu), 350 m (bắn diện tích)

Câu chuyện về "Thumper" hay "Blooper" (cả hai đều là mật danh không chính thức của M79) bắt đầu vào năm 1951, khi quân đội Mĩ nhận ra rằng họ phải san lấp giữa tầm hiệu quả của lựu đạn ném tay (max là 50m) và tầm ngắn nhất của cối 60mm (khoảng 400m). Đến năm 1952 quân đội đã yêu cầu về một loại đạn, có hình dáng một quả đạn 40mm rỗng, được nạp bởi thuốc HE và một quả đạn mảnh. Những buổi thử nghiệm đầu tiên được tiến hành với thiết bị phóng lò xo và ống phóng gắn trên súng M1 Garand, tất cả đều dưới mật danh PROJECT NIBLICK. Trung tâm Springfield đã bắt đầu phát triển loại súng phóng lựu dành cho loại đạn M406, và đến năm 1960 khẩu súng phóng lựu 40mm cầm tay, bắn phát một đầu tiên ra đời với tên gọi M79. Đợt sản xuất đầu tiên của M79 cho quân đội Mĩ bắt đầu năm 1961, và đến trước khi việc sản xuất tại Mĩ bị ngừng năm 1971, đã có hơn 300 000 khẩu M79 được sản xuất tại Mĩ bởi nhiều nhà thầu. Những phiên bản copy của nó cũng được sản xuất tại Hàn Quốc bởi Daewoo và ở Nam Phi bổi Milkor. Lúc này M79 không còn được sử dụng trong quân đội Mĩ, mặc dù vậy thì nó vẫn còn được sử dụng trong quân đội nhiều quốc gia khác như Australia, El Salvador, Israel, Malaysia, Saudi Arabia, Turkey... và Việt Nam.

M79 được quân đội Mĩ sử dụng rất rộng rãi trong chiến tranh VN:



Và nay nó đang phục vụ những ông chủ mới ^^ :

M79 được sử dụng rộng rãi lần đầu tiên là ở chiến trường Việt Nam, ở đó nó đã thành công một cách rực rỡ. Đáng tin cậy và khá chính xác trong tác chiến, M79 cung cấp hỏa lực cấp tiểu đội như một khẩu cối hạng nhẹ. Tiếp nối sự thành công của loại đạn M406 HE-FRAG, các loại đạn khác cũng nhanh chóng được phát triển như đạn khói và đạn pháo sáng, đạn HE-DP (dual purpose, fragmentation/antitank), đạn cháy, đạn chì mảnh (dànhcho cận chiến và phòng thủ ). Nhược điểm lớn nhất của M79 có lẽ là người lính phải mang nó cùng với một thứ vũ khí tăng cường khác để phòng thủ khi cận chiến, như mang thêm một khẩu súng lục hay một khẩu SMG. Sự bất tiện này là lý do người Mĩ phát triển loại súng phóng lựu gắn dưới nòng súng M203, nó đã thay thế M79 đi vào phục vụ từ những đầu năm 1970.

M79 là loại súng bắn phát một, bẻ gập để nạp đạn với nòng xoắn. Đạn 40mm được nạp bằng cách bẻ gập súng ra, nhét đạn vào rồi đóng lại. Báu sẽ
tự động đóng khi nạp đạn xong. Ở đây có một chế độ an toàn bằng tay, nó sẽ tự động chuyển khi được nạp đạn xong. Báng súng làm bằng gỗ, và nó có một miếng lót bằng cao su. Thước ngắm trên thân súng được chia thành 25 mấu để bắn mục tiêu từ 75m đến 375m. Cũng lưu ý rằng những người lính giàu kinh nghiệm họ thường bỏ thước ngắm xuống và ngắm bằng đầu ruồi, nhưng vẫn không hề giảm độ chính xác.



Khuyết điểm:


Spin delay không hoàn chỉnh: tội ác chống lại loài người

M79 có ngòi spin delay, khi bắn, đạn quay mạnh, làm khối nặng quay trong đầu quay tụt lại. Khối này quay đủ số vòng so với đầu thì hết bánh răng cưa, kim hỏa mới có thể tiến tới hạt nổ, đầu đạn mới sẵn sàng được kích nổ bằng chạm nổ. Như thế, ở một koảng gần người bắn đầu đạn không thể bị kích nổ nếu như va phải cái gì đó, an toàn cho người bắn. Đồng thời, quán tính xoáy mạnh khi bắn có tác dụng như mở chốt an toàn của đầu đạn được cài từ lúc sản xuất. Chức năng ngòi M79 không có là tự huỷ như B41 hay GP-25.

Đây là một phần trong những nguyên nhân làm đầu đạn bắn rồi rơi vãi rất nhiều, nó rất đẹp, sau một thời gian dài lăn lóc có khi nó đủ vòng quay sẵn sàng kích nổ, trẻ em thấy đẹp, cầm lên chơi nghịch là nổ.

Điều ghê sợ nhất là: Phần lớn số đầu đạn không bị kích nổ vì va phải vật cản trong tầm an toàn đã tự giải phóng ngòi nổ, vì vận tốc của đầu đạn thấp 76m/s, đầu đạn không bị va đập làm hỏng, khối quay trong ngòi vẫn tiếp tục quay khi đầu đạn bị va trong tầm an toàn nằm lại, nó giải phóng ngòi mà không phát nổ vì đạn đã nằm lại không va vào đâu lần nữa, nhưng lại sẵn sàng phát nổ chỉ cần rơi hay ném, thậm chí đá phải, vì đầu đạn có ngòi được thiết kế cho vận tốc thấp. Đầu đạn có màu rất đẹp và bền, bắt mắt, dễ nhận, trông như màu vàng, nên trẻ em rất thích.

Các nước khác đều có ngòi an toàn chậm, ngòi spin delay, nhưng đều có chức năng an toàn, ví dụ, GP-25 Nga , B41 có ngòi tự hủy. B40 có đầu đạn lớn và số phát bắn ít, nếu đạn không nổ thì cả ta và địch đều thu gom tháo ngòi hủy đạn, các đạn lớn nhiều đạn có cấu trúc kiểu này, dù có quên thì nó cũng khó phát nổ và sớm bị phân huỷ, khó phát nổ như bắn vào lưới B40 đạn B40 không nổ.

Còn M79 có số lượng đầu đạn không nổ nhiều kinh khủng. Phiên bản liên thanh 40mm càng để lại rất nhiều đạn có kiểu ngòi ăn bớt kỹ thuật này đã giải phóng kim hoả nhưng chưa nổ. Thêm nữa, rất nhiều đạn không nổ vì lỗi cơ cấu spin delay, nó va vào mục tiêu ngoài khoảng an toàn, nhưng spin delay vẫn chưa nhả kim hoả, mà vẫn tiêp tục làm việc rồi nhả kim hoả sau khi đạn đã đứng im.

Sơ tốc của đạn M79 rất thấp, 76m/s (khoảng trên 200 km/h), ngòi chạm nổ, nên khi ngòi đã giải phóng thì nó rất nhậy, ném mạnh là nổ, đây là vấn để nam giải làm hàng vạn trẻ em của chúng ta chết và tàn tật nặng. Một số lượng lớn súng M79 và súng liên thanh cũng 40mm để lại rất nhiều đầu đạn chưa nổ vì nguyên nhân này, 40 năm nay. Đáng lý ra phải phổ biến nguyên lý đạn M79 để nhiều người biết nhắc nhở trẻ em và cả người lớn.

Spin delay http://www.patentgenius.com/patent/6142080.html

Các đạn lựu 40mm

Súng phóng lựu 40mm Mỹ có 2 loại tầm gần và xa, dùng 2 loại vỏ đạn 40x46mm và 40x53mm. M79 dùng 40x46mm, còn có tên khác là " 40mm Low-Velocity Grenades".

Các loại đạn có mặt trong chiến tranh Việt Nam
40mm Low-Velocity Grenades http://www.inetres.com/gp/military/infantry/grenade/40mm_ammo.html
http://www.globalsecurity.org/military/systems/munitions/40.htm
http://mm-grenade.com/40mm.html
Về áp suất liều thì đương nhiên, tất cả các loại cối đều thế, súng bắn đạn viên cũng vậy, không loại đạn nào giống như loại đạn nào, áp suất thay đổi nhiều.

Loại súng này có khương tuyến khoảng 300mm, đến tận đầu nòng, khương tuyến chữ nhật hẹp. Trong nòng phần ổ đạn trơn không khương tuyến, hai hình hai thằng Mỹ đứng trên là hai hình minh họa khương tuyến đến đầu nòng, các cựu ca bấm vào link hình to là thấy Rõ. Cái thằng Mỹ ở Việt Nam nó cầm khẩu súng mòn gần hết phần đầu nòng, nhưng thằng ở Afghan khương tuyến mới mòn hơi nghiêng.

Vỏ đạn nửa gờ, tức vừa có gờ vừa có rãnh móc vỏ.

Vì súng rất cũ, nên nó mòn, khương tuyến chữ nhật thành tam giác (phía cạnh sau gờ khương tuyến sau mòn nhiều hơn trước). Riêng súng này đầu nòng mòn nhanh hơn đuôi nòng là có vấn đề trong thiết kế nòng pháo cối, vì vận tốc đạn của pháo này nhỏ.

Chi tiết

Đạn có vỏ đồng, thép hay nhôm. Súng này nguội nên làm vỏ đạn nhôm rất tiện, nhẹ, dẻo, kín khít, vì vỏ đạn có tác dụng như cái van một chiều ngăn khí phun về sau, khi bắn nó nở ra ép vào thành ổ đạn (nòng), nên đàn hồi và dẻo là điều cần thiết. Vỏ thép cho súng bắn đạn viên thì quá dài khó làm (AK có cái này cũng là một đặc sắc đi trước thời đại, làm vỏ đạn nhẹ đi 3 gram, đạn Mosin còn 22 gram trong khi NATO 7,62x51mm là 25 gram), nhưng súng này không khó làm vì tỷ lệ dài rộng của vỏ đạn nhỏ, dễ dập. Tuy nhiên, truyền thống Mỹ là vỏ đạn đồng, quen làm, nên vỏ đồng nhiều.

Vỏ đầu đạn mạ sáng đẹp như vàng nên trẻ em rất thích, đây là lớp mạ đồng rồi sơn phủ bằng một loại sơn gần như không màu, rất bền, tạo ra mầu rất đẹp, nhiều em tai nạn. Đầu đạn có đai ăn xoắn, khương tuyến cắt đai này như pháo lớn.

Đây là sơ đồ M430A1 (40x53mm). Đầu đạn lõm nổ xuyên-sát thương. Liều
phóng đạn này khá đặc biệt, nó nằm trong vỏ chắc bằng nhôm đúc, đi qua tiết lưu để phun từ từ ra đẩy đầu, đảm bảo thuốc cháy trong áp cao, cháy tốt, mà áp trong nòng lại thấp, đúng chính xác như buồng đốt cối cổ lọ trước cách mạng Pháp 1879 . Copper liner là tấm trích năng liều lõm bằng đồng, dùng để xuyên. Rotating band là đai đạn ăn xoắn. M549 FUSE là một loại ngòi có tính năng như các ngòi spin delay khác dùng trên cối 40mm.



Mầu vỏ đồng mà mầu đầu đạn đặc trưng của M79 hay dùng ở chiến tranh Việt Nam, màu đầu đạn rất đẹp, vỏ đạn đồng. Trong ảnh là "M79 Revolver", Milkor MGL (Milkor là tên hãng, Multiple Grenade Launcher), do Nam Phi sản xuất, dùng trong quân Mỹ bằng mã tên M32.
Ảnh to http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/9/9e/M32_Grenade_Loading.jpg


các mầu đạn khác



M433 1971, xuyên lõm - sát thương, HEDP. HE=nổ mạnh, dùng RDX. DP=dual purpose, 2 mục đích là xuyên lõm sát thương. Nặng 230 gram, sơ tốc 76 m/s . đạn đã bắn với vết khương tuyến.



ngòi spin delay model 550, M550 Fuze.
http://www.dtic.mil/ndia/2009fuze/VAlyonmohan.pdf




Nhân đây nói thêm về "The High-Low system"
cối trước cách mạng Pháp, cối thời Vô Băng http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,16395.msg317339.html#msg317339

Đây là mình chứng về một sự ngu xuẩn của ngành vũ khí Mỹ, được các thể loại rẻ tiền suả váng hoàn cầu. Người Mỹ đặc trưng là hay nhận vơ các phát minh của thế giới về mình, sĩ hão, đăng ký số lượng các bản phát minh lớn nhất thế giới. Ví dụ, người Mỹ đăng ký phát minh hết toàn bộ khẩu AK, với đủ các chi tiết, kể cả bộ điều hoà tốc độ bắn bằng cò - búa rất ưu việt của AK. Hay ví dụ khác, đèn sợi đốt người Mỹ nhận do Edison phát minh, mặc dù ông này chỉ nỗ lực phát triển bóng đèn dây tóc than chì mà không tăng thêm được cái gì, bóng đèn dây tóc than chì được châu Âu phát minh vào khoảng 180x, được dùng ở Anh và Edison vướng vào vụ kiện cáo về bản quyền cái này. Còn bóng đèn dây tóc sợi volphram thì do một nhà khoa học Nga phát minh và đem bán cho GE 1890-1906.

Vì sự ngu xuẩn này mà Mỹ là nước đánh đâu chạy tụt dép đấy, nhưng lại xừng là xiêu kường số một hoàn cầu.

Đã biết, cối từ cổ trước cách mạng Pháp đã có cái mà người Mỹ gọi rất kêu là "High-Low system" . Đây là buồng đốt kín cao áp, nếu liều cối quá nhỏ, cho thuốc cháy trong nòng thì áp quá thấp để thuốc cháy đủ ổn định, nên người ta nhồi thuốc vào một cái lọ thắt cổ ở đáy nòng, để áp lực trong lọ cao, thuốc cháy ổn định. Khi có cách làm cho cối chính xác hơn, thì người ta bỏ cái lọ thắt miệng đó, thay bằng cái phễu loe miệng, vì liều đã nhiều, áp trong nòng cao, làm thắt miệng như cũ thì nổ buồng đốt.

Hoá ra, trước cách mạng Pháp, người ta đã dùng cái mà người Mỹ tuyên là
"High-Low system" được áp dụng lần đầu tiên trên thế giới ở M79.

Đám giẻ rách trên nét thì tuyên khẩu Pansarskott m/68 Miniman cũng "High-Low system". Phì cười, đây là khẩu súng thuỵ điển mà đời sau của nó là m/86 được Mỹ mua license là nay là B40/B41 tiêu chuẩn của Mỹ có tên Mỹ là AT4 (anti-tank).

Miniman cũng là chuyển từ áp cao sang áp thấp, nhưng nó không ngu xuẩn như M79, điều này cũng như là ưu thế của trích khí DP với SVT.

M79 tiết lưu, họ dùng một lỗ nhỏ để khí nóng không chuyển nhanh từ buồng đốt ra ngoài, như cối Pháp trước cách mạng, thắt cổ lọ lại tiết lưu. Lỗ tiết lưu là vent khoan trong kim loại vỏ đạn rất dầy
[center]
[/center]

Từ: Vnmilitaryhistory + các nguồn khác
--------------------------
Dựa theo bài viết của Tranhung09
      
KHCN Ưu tú

Cấp bậc: Ưu tú

Giới tính: Nam

Bài viết: 702

Danh vọng: 1442

Uy tín: 23

Loại này ngầu hơn nè:

Súng phóng lựu liên thanh - 'sát thủ' bộ binh của Nga

Súng phóng lựu, đặc biệt là súng phóng lựu liên thanh thực sự là sát thủ của bộ binh trên chiến trường, bởi khả năng bắn đạn cầu vồng với số lượng lớn.

Kể từ khi người Mỹ sử dụng súng phóng lựu liên thanh trong chiến tranh Việt Nam, người Nga cũng bắt đầu chế tạo những thứ vũ khí tương tự cho mình, rất tiện lợi mà không kém phần lợi hại.

Súng phóng lựu liên thanh AGS-17

Sự phát triển của loại súng AGS-17 (Avtomatischeskyi Granatmyot Stankovyi – Súng phóng lựu liên thanh đặt trên bệ) bắt đầu vào năm 1967 tại Cục thiết kế OKB-16 (tiền thân của KBP - Instrument Design Bureau).

Chắc chắn rằng, khẩu AGS-17 được sinh ra nhờ những kinh nghiệm đúc kết
từ cuộc xung đột biên giới Liên Xô – Trung Quốc cuối những năm 1960, đây là loại vũ khí hữu hiệu đối phó với các cuộc tấn công “biển người“.

Loại vũ khí này hỗ trợ cho bộ binh ở khoảng cách trung bình, chống lại binh lính đối phương và các mục tiêu không được bảo vệ như xe tải và các khí tài tương tự. Mẫu thử nghiệm đầu tiên được ra mắt năm 1969, và đi vào sản xuất hàng loạt năm 1971.

Cùng lúc này một phiên bản đặc biệt được phát triển dành cho loại trực thăng vũ trang Mi-24 Hind.

AGS-17
AGS-17 được quân đội Liên Xô sử dụng rộng rãi trong cuộc chiến ở Afghanistan như loại vũ khí yểm trợ mặt đất hoặc vũ trang trên các xe cơ giới, ví dụ như xe bọc thép hoặc xe tải.

Sau này, nó được quân đội Nga sử dụng như một loại vũ khí hỗ trợ bộ binh trực tiếp hay gắn trên tháp pháo các loại xe cơ giới, bên cạnh súng đại liên, tên lửa có điểu khiển hay thiết bị trinh sát.

Biến thể AGS-17A dành cho lính dù được lắp vào cửa sổ trực thăng chở quân Mi-8 Hip, và một phiên bản AGS-17 trên Mi-24, có lớp giảm nhiệt bằng nhôm dày và hệ thống bắn từ xa.

AGS-17 gắn trên xe địa hình trong quân đội Cuba.
AGS-17 là loại súng làm mát bằng không khí, sử dụng băng đạn dây, chứa 29 viên, nặng 18kg.

Súng có 2 cái tay cầm dành cho xạ thủ, ở giữa là cò súng. Thước ngắm tiêu chuẩn là loại kính quang học PAG-17 2.7X. Giá đỡ là loại tripod SAG-17 có thể điều chỉnh được hướng cũng như nâng lên hạ xuống. Để vận chuyển dễ dàng tripod và súng có thể được gấp lại và đeo như balo, điều đó cho phép súng có thể được mang vác bởi 2 người lính.
Binh sĩ trong tư thế bắn AGS-17
AGS-17 nhìn bề ngoài có vẻ đơn giản hơn đối thủ của nó, loại Mk.19 mod.3
của Mỹ. Cỡ đạn của súng cũng nhỏ hơn. Loại súng này chỉ dùng duy nhất loại đạn VOG-17, sau này có thêm loại cải tiến AGS-30, đạn mảnh sát thương với bán kính khoảng 7-9m.

Tuy vậy, AGS-17 có thời gian chuẩn bị bắn nhanh gấp 2 lần Mk.19 và có thể dễ dàng mang vác. Ban đầu, AGS-17 chỉ sản xuất tại Nga, sau này có thêm Trung Quốc và Serbia.

Đạn VOG-17 và dây đạn trong hộp
Súng phóng lựu liên thanh AGS-30

Súng phóng lựu liên thanh AGS-30 được phát triển bởi tổ hợp KBP là một phiên bản nhẹ hơn nhiều so với loại súng phóng lựu có cùng cỡ nòng rất thành công là AGS-17. Việc phát triển súng được bắt đầu từ đầu những năm 1990, và sản phẩm đầu tiên ra mắt năm 1999.

AGS-30
Ngày nay AGS-30 được sản xuất tại nhà máy ZID ở thành phố Kovrov dành
cho quân đội Nga và một số lực lượng đặc biệt của Bộ nội vụ. So sánh với
AGS-17, AGS-30 có trọng lượng nhẹ hơn 2 lần (16kg cả súng lẫn giá 3 chân (tripod), 30 kg đầy đủ với hộp đạn tiêu chuẩn 29 viên, trong khi AGS-17 chưa tripod chưa đạn đã là 18kg) giúp một người lính cũng có thể mang vác trên khắp chiến trường.

AGS-30 được sử dụng chủ yếu là vũ khí hỗ trợ hỏa lực của bộ binh, bên cạnh đó nó còn được gắn trên các xe cơ giới của quân đội Nga, ví dụ như Tigr.

Lính Nga đang khai hỏa một khẩu AGS-30
AGS-30 làm mát bằng không khí, sử dụng băng đạn dây. Hộp đạn dành cho AGS-30 có kiểu giống súng AGS-17, nặng 14kg. Súng có hai chế độ bắn là phát một và liên thanh. Kính ngắm tiêu chuẩn là loại kính quang học 2.7X, bên cạnh đó nó cũng có một cái thước ngắm sắt dự phòng.

Súng phóng lựu liên thanh “Balkan” 6G27

Balkan 6G27.

Loại súng phóng lựu liên thanh mới cho quân đội Liên Xô, mạnh mẽ hơn loại súng phóng lựu liên thanh tiêu chuẩn là AGS-17 đã được khởi động vào đầu năm 1980.

Vũ khí mới được thiết kế để sử dụng loại đạn 40mm “không vỏ“, có nguyên lý tương tự với loại đạn VOG-25 của ống phóng lựu gắn trên súng GP-25, nhưng có cỡ nòng to hơn và mạnh mẽ hơn.

Hộp đạn 40mm của Balkan
Mẫu thiết kế đầu tiên ra đời tên là TKB-034, nhưng vào cuối những năm 1980 việc phát triển đã bị đình trệ bởi Liên Xô lâm vào cuộc khủng hoảng, cuối cùng bị sụp đổ.

Vào đầu những năm 1990 chương trình đã được phục hồi lại với tên là “Balkan”, phát triển chậm chạp, kéo dài tới 20 năm. cho tới khi GNPP "Pribor" giới thiệu loại súng 40mm 6G27 và đạn 40mm “không vỏ” 7P39 tại hội chợ quân sự IDELF-2008 ở Moskva.

Theo nhà sản xuất, “Balkan” đã sẵn sàng để sản xuất hàng loạt. So sánh với các loại súng phóng lựu 30mm của Nga hiện tại như AGS-17 và AGS-30, “Balkan” có tầm bắn xa hơn (2.500m) và sử dụng đạn mạnh hơn nhiều.

Nhìn từ trên xuống, nếu nhìn qua thì ta có thể lầm với AGS-17

Sự xuất hiện của ghế ngồi cho thấy các nhà sản xuất vũ khí Nga bắt đầu chú trọng tính tiện nghi của sản phẩm.
Thông tin đáng tin cậy về thiết kế của Balkan không nhiều, nhưng thiết kế chủ yếu của nó dựa trên mẫu cơ bản TKB-0134.

Balkan sử dụng loại đạn đặc biệt 40mm “không vỏ”. Hộp đạn của nó đặt bên tay phải súng, chứa 20 viên đạn. Balkan được tích hợp một cái kính ngắm quang học và một thước ngắm sắt dự phòng.

Giá đỡ tiêu chuẩn của súng là tripod, lấy từ loại AGS-17 và thêm cái ghế cho xạ thủ. Khi được chấp nhận vào biên chế, Balkan có thể được thiết kế để gắn trên các loại xe cơ giới.

Cấu tạo tên "sát thủ".
Quang Minh (tổng hợp)

Bài đăng trên baodatviet.vn
      

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang  Thông điệp [Trang 1 trong tổng số 1 trang]

Quyền hạn của bạn

Bạn không có quyền trả lời bài viết
free counters



  • Đoàn Ngọc Khánh

    mobile phone 098 376 5575


    Đỗ Quang Thảo

    mobile phone 090 301 9666


    Nguyễn Văn Của

    mobile phone 090 372 1401


    IP address signature
    Free forum | © PunBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Create your blog